Thỏa thuận tài sản vợ chồng trước khi kết hôn

tai san vo chong truoc ket honLuật hôn nhân và gia đình 2014 (có hiệu lực từ 01/01/2015) có một quy định mới đáng chú ý, đó là quy định về việc thỏa thuận tài sản vợ chồng trước khi kết hôn (nhiều người có thể gọi là Hợp đồng hôn nhân). Tóm tắt một cách ngắn gọn là trước khi 2 người đi đăng ký kết hôn, 2 người có thể lập một văn bản thỏa thuận về tài sản nào của riêng vợ, tài sản nào của riêng chồng và tài sản nào sẽ là của chung hai vợ chồng. Ngoài ra vợ chồng cũng có thể thỏa thuận bất cứ một nội dung nào khác có liên quan đến tài sản của hai người, chẳng hạn quyền và nghĩa vụ của mỗi người, điều kiện, nguyên tắc phân chia tài sản… Bài viết hôm nay tôi sẽ nói cụ thể hơn về nội dung này

Phần trên tôi tóm tắt ngắn gọn như vậy cho các bạn dễ hình dung, còn trong ngôn ngữ pháp luật, việc thỏa thuận này được gọi là Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Từ vợ chông tôi dùng trong bài viết này để cho thuận tiện và dễ hiểu, không có nghĩa là vợ chồng đã đăng ký kết hôn theo quy định.

Khi nào thì được lập Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng?

1. Chỉ được lập và công nhận khi 2 người chưa đăng ký kết hôn, lưu ý chưa đăng ký kết hôn nghĩa là 2 người chưa ra UBND xã, phường để làm thủ tục đăng ký kết hôn chứ không phải là chưa tổ chức đám cưới đâu nhé.

2. Hai người cùng đoàn kết, đồng thuận, và quyết định lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, nghĩa là quyết định cùng nhau lập Văn bản Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

3. Văn bản Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực (mà tốt nhất là công chứng, không khuyến khích các bạn chọn chứng thực)

4. Văn bản Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ khi 2 người đăng ký kết hôn

Như vậy có thể nói Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được dành cho những ai chưa hoặc sắp kết hôn, còn nếu bạn đã kết hôn rồi thì cũng có thể quan tâm cho… con cháu sau này 😛 . Hoặc tham khảo bài viết về Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng sẽ là một lựa chọn phương án giải quyết.

Như vậy, sau khi 2 người đã quyết định lập Văn bản Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn, thì nên quan tâm đến một số vấn đề cơ bản sau:

Nội dung của Văn bản:

Nội dung của Văn bản thỏa thuận sẽ do 2 vợ chồng tự chủ động lựa chọn và quyết định, tuy nhiên pháp luật cũng “gợi ý” một số phương án thỏa thuận đơn giản và cơ bản như sau:

1. Thỏa thuận tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng.

2. Thỏa thuận giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung.

3. Thỏa thuận giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

Còn nếu như không lựa chọn một trong 3 phương án trên thì vợ chồng có thể lựa chọn phương án tự xây dựng Văn bản thỏa thuận, khi đó nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

  • Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
  • Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
  • Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
  • Nội dung khác có liên quan.

Đó chỉ là những nội dung cơ bản mà như tôi đã nói, pháp luật “gợi ý” cho các cặp vợ chồng tham khảo và hình dung được một cách cơ bản, còn thực tế thì mỗi nhà một khác nên nếu cặp vợ chồng nào muốn lập văn bản chi tiết và cụ thể hơn mà cảm thấy vướng mắc thì có thể nhờ sự tư vấn của luật sư hoặc chuyên viên pháp lý. Bạn cũng có thể nhờ sự trợ giúp của Văn phòng công chứng, tuy nhiên thường thì họ sẽ chỉ cung cấp cho bạn mẫu văn bản mà không có trách nhiệm tư vấn cụ thể và chi tiết hơn.

Những lưu ý khi lập văn bản:

Nói là 2 vợ chồng tự chủ động và quyết định về nội dung thỏa thuận nhưng không phải là hoàn toàn và tất cả, pháp luật cũng quy định một số trường hợp hạn chế về thỏa thuận tài sản vợ chồng, nếu rơi vào các trường hợp này, có thể thỏa thuận của vợ chồng sẽ bị vô hiệu. Mục đích của việc quy định như vậy là để tránh gây ảnh hường và làm thiệt hại đến quyền lợi của chủ thể thứ 3 có liên quan.

Vậy nên, vợ chồng cũng cần lưu ý những quy định sau để tránh thỏa thuận của mình đã mất công lập ra mà sau này khi áp dụng mới phát hiện là bị vô hiệu.

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

– Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

– Vi phạm một trong các quy định sau:

1. Quy định về Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
  • Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
  • Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  • Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
2. Quy định về Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
  • Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  • Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
3. Quy định về Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng
  • Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.
4. Quy định vê Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng
  • Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.
  • Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Nội dung về vô hiệu nêu trên có thể một số bạn đọc sẽ thấy vẫn còn chung chung và chưa hiểu rõ, vậy thì hãy xem một số giải thích và Ví dụ tình huống mà quy định pháp luật nêu dưới đây để có thể hiểu rõ hơn:

Giải thích 1Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.
Giải thích 2Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.
Ví dụ 1Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho bà C, do đó, không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này thỏa thuận về tài sản giữa ông A và bà C bị vô hiệu.
Ví dụ 2Anh A có con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Sau đó, anh A kết hôn với chị B. Anh A và chị B đã thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có nội dung toàn bộ tài sản của anh A sẽ do chị B thừa hưởng khi anh A chết. Trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản giữa anh A và chị B bị vô hiệu đối với phần tài sản của anh A mà người con bị mất năng lực hành vi dân sự được thừa kế theo quy định của pháp luật.
Ví dụ 3Anh A và chị B trước khi kết hôn có lập văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong văn bản xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của anh A trước khi kết hôn (trên thực tế đã thế chấp cho Ngân hàng C) sẽ là tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn. Do đến hạn anh A không trả được nợ nên Ngân hàng C yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất nhưng anh A không đồng ý và cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng mà không phải tài sản riêng của anh. Ngân hàng C đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu anh A trả nợ, yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng anh A và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của anh A. Trường hợp này Tòa án phải xác định thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng anh A bị vô hiệu vì vi phạm nghiêm trọng quyền của ngân hàng C đối với tài sản đã được anh A thế chấp.

Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu đó là:

  • Vợ, chồng hoặc vợ chồng đã thỏa thuận về chế độ tài sản;
  • Người bị xâm phạm, người giám hộ của người bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp do có thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.

Tuy nhiên không phải nói đến vô hiệu là toàn bộ thỏa thuận đó bị vô hiệu, mà Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần:

  • Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.
  • Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

Vậy nên nếu chẳng may do không biết mà một trong số các thỏa thuận của vợ chồng có thể bị vô hiệu, thì các bạn cũng không cần lo lắng, phần còn lại của thỏa thuận vẫn có hiệu lực và được thực hiện bình thường.

Sau khi lập và công chứng văn bản thỏa thuận tài sản xong xuôi, vợ chồng vẫn có thể sửa đổi, bổ sung nội dung văn bản đó bất kỳ lúc nào trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân, có thể sửa đổi một phần hoặc toàn bộ, hoặc lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định

Việc sửa đổi, bổ sung hay thay đổi lựa chọn phải được lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực.

Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

  • Lưu ý cuối cùng, cũng không kém phần quan trọng, đó là: Khi thực hiện các giao dịch với người thứ 3 liên quan đến tài sản đã thỏa thuận thì Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin, thỏa thuận liên quan đến tài sản đó.

(Những nội dung trên có trích dẫn quy định trong các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP)

Trước 01/01/2015, pháp luật Việt Nam không thừa nhận việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trước hôn nhân, nhưng từ ngày Luật hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực thì việc thỏa thuận này đã được công nhận. Một số người còn gọi đây là Hợp đồng hôn nhân 😛 .

Theo quan điểm của tôi thì đây là một quy định rất văn minh và tiến bộ, mặc dù với truyền thống văn hóa của Việt Nam, thì có thể sẽ có nhiều băn khoăn từ phía các cặp vợ chồng khi quyết định lập văn bản thỏa thuận như vậy. Tôi không biết được rồi sẽ có bao nhiêu thỏa thuận như vậy được lập ra nhưng tôi tin rằng với tư duy hiện đại của thế hệ các cặp vợ chồng trẻ thì có lẽ không khó khăn lắm để quy định này được thực hiện trên thực tế.

Hy vọng bài viết này sẽ phần nào giúp ích cho những ai quan tâm. Nếu có ý kiến hay câu hỏi liên quan, các bạn có thể gửi phản hồi ở dưới bài viết này, hoặc liên hệ riêng để yêu cầu tư vấn và giải đáp.

Bạn cũng có thể ấn nút “Theo dõi” để cập nhật các thông báo về bài viết mới nhất của chúng tôi qua email.

Thỏa thuận tài sản vợ chồng trước khi kết hôn
5 10 vote[s]
Lưu ý khi bình luận để nhận được phản hồi:
# Bạn hãy cung cấp email chính xác.
# Vui lòng viết bằng tiếng Việt có dấu.
# Hãy cố gắng tìm kiếm trên trang web và trong phần bình luận trước khi đặt câu hỏi.
Mọi bình luận/câu hỏi tiếng Việt không có dấu sẽ không nhận được phản hồi.

Bình luận