Chia tài sản vợ chồng khi ly hôn

chia tai san vo chong khi ly honTrường hợp khi ly hôn 2 vợ chồng không thể đạt được thỏa thuận về tài sản và không có Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn. Với trường hợp này, Tòa án có những nguyên tắc giải quyết như thế nào?

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Trong đó, có quy định mới đáng chú ý về chế độ tài sản của vợ chồng. Theo đó thì “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận” (Khoản 1, Điều 28)

Quy định mới ở đây đó là lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, tuy nhiên trong bài viết này tôi không đi sâu vào phân tích về quy định mới này nhưng vì có sự liên quan nên tôi đề cập đến để người đọc dễ hiểu hơn với những nội dung chính tiếp theo đây.

Có lẽ ai cũng biết, đối với 1 vụ ly hôn, luôn luôn có 3 vấn đề chính cần giải quyết, đó là Tình cảm (Mức độ và tình trạng mâu thuẫn vợ chồng), Con cái (Ai sẽ nuôi con) và Tài sản (Tài sản nào thuộc về ai). Trong đó 2 vấn đề dễ xảy ra tranh chấp nhất đó là Con cái và Tài sản. Và trong bài viết này tôi sẽ đề cập đến việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Khi tư vấn một vụ ly hôn, tôi thường gặp các câu hỏi của khách hàng chẳng hạn như tôi và chồng sống chung nhưng căn nhà chỉ đứng tên chồng tôi, vậy tôi có được chia không; tôi và vợ sống cùng với gia đình vợ, ở nhà bố mẹ vợ vậy sau khi ly hôn tài sản sẽ được chia như thế nào hoặc tôi chỉ ở nhà nội trợ, chăm sóc con cái, chồng tôi là người đi làm kiếm thu nhập chính, vậy tôi có được chia tài sản không…v..v…

Nếu như đối với Luật hôn nhân và gia đình 2001 (cũ) và các văn bản hướng dẫn, tôi phải đặt ra nhiều giả thiết và các trường hợp để tư vấn cho khách hàng thì Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã khắc phục được phần lớn điều đó bằng những quy định chi tiết và cụ thể. Và mới đây, ngày 06/01/2016, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đã được ban hành để hướng dẫn cụ thể hơn nữa về quy định của Luật. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/3/2016 (Sau đây tôi gọi tắt là Thông tư 01)

Theo Khoản 1, Điều 7 của Thông tư 01 về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, thì:

Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:

  1. Trường hợp không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn;
  2. Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định tương ứng của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Đến đây chắc hẳn các bạn đã hiểu tại sao tôi lại phải đề cập đến chế độ tài sản của vợ chồng ở đầu bài viết. Tuy nhiên thì tại Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng có quy định: Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Mà như tôi đã đề cập ở trên chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, vì vậy theo ý kiến chủ quan của tôi, có lẽ rất hiếm cặp vợ chồng đã kịp lựa chọn chế độ tài sản này.

Vậy nên trong bài viết này tôi chỉ đề cập đến trường hợp, khi ly hôn 2 vợ chồng không thể đạt được thỏa thuận về tài sản và không có Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn. Với trường hợp này, Tòa án có những nguyên tắc giải quyết như thế nào?

Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu nguyên tắc giải quyết của Tòa án, cần phải xác định thế nào là tài sản chung của vợ chồng: theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về Tài sản chung của vợ chồng thì:

* Tài sản chung của vợ chồng gồm:

Trong thời kỳ hôn nhânTrường hợp khác cũng là tài sản chung
– Tài sản do vợ, chồng tạo ra,

– thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh,

– Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng

– Thu nhập hợp pháp khác

– Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung

– Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

 

Trừ trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

– Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

– Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

* Như vậy khi ly hôn, những tài sản chung theo quy định nêu trên sẽ được Tòa án giải quyết theo những nguyên tắc chung sau đây:

Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

1. Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng

Là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

2. Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung

Là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm.

Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

3. Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp đcác bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập

Là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch.Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vchồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng đhọ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

4. Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

* Ngoài ra cũng cần chú ý các nguyên tắc chia tài sản sau đây:

1. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

2. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.

* Những trường hợp đặc biệt khi chia tài sản chung vợ chồng

1. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình.

Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo các nguyên tắc chung.

2. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn

Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo các nguyên tắc chung.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định trên;

c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo các nguyên tắc chung;

d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo quy định “Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình”.

3. Quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

* Lưu ý: Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

(Những nguyên tắc trên đây được trích dẫn từ:

– Điều 59 đến Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015

– Điều 7 Thông tư liên tịch Số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, có hiệu lực từ ngày 01/3/2016)

Hy vọng bài viết này sẽ phần nào giúp ích cho những ai quan tâm. Nếu có ý kiến hay câu hỏi liên quan, các bạn có thể gửi phản hồi ở dưới bài viết này, hoặc liên hệ riêng với chúng tôi.

Bạn cũng có thể ấn nút “Theo dõi” để cập nhật các thông báo về bài viết mới nhất của chúng tôi qua email.

Chia tài sản vợ chồng khi ly hôn
4.3 6 vote[s]
Lưu ý khi bình luận để nhận được phản hồi:
# Bạn hãy cung cấp email chính xác.
# Vui lòng viết bằng tiếng Việt có dấu.
# Hãy cố gắng tìm kiếm trên trang web và trong phần bình luận trước khi đặt câu hỏi.
Mọi bình luận/câu hỏi tiếng Việt không có dấu sẽ không nhận được phản hồi.

Bình luận